Dân tộc Lự

 

Người Lự (tên gọi khác là Phù Lừ, Nhuồn, Duồn) đã sinh sống ở khu vực Xam Mứn thuộc tỉnh Điện Biên từ trước thế kỷ XI – XII. Hiện nay, dân số dân tộc Lự khoảng 6.757 người, là một trong 16 dân tộc rất ít người ở nước ta. Vào thế kỷ chiến tranh, người Lự phải phân tán đi khắp nơi, một bộ phận nhỏ chạy lên sinh sống ở vùng núi Phong Thổ, Sìn Hồ  thuộc tỉnh Lai Châu. Nhưng hiện nay chỉ còn rất ít người sinh sống tại đây. Đồng bào tự gọi mình là Lừ, Thay hoặc Thay Lừ.

 

Nhóm địa phương chỉ có Lự Đen (Lừ Đăm) ở xã Bản Hon, huyện Phong Thổ, Sìn Hồ (Lai Châu), ở Việt Nam không có nhóm Lự Trắng.

 

Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai).

 

Kinh tế

 

Người Lự có truyền thống làm ruộng từ lâu đời, họ sáng tạo ra hệ thống mương, phai truyền thống để dẫn thuỷ nhập điền. Đồng bào biết dùng cày bừa, gieo mạ, cấy lúa, bón phân. Ngoài ra, họ còn làm thêm nương trồng ngô, khoai, sắn, lạc, bông, chàm và hầu như nhà nào cũng có vườn cạnh nhà. Ruộng trồng lúa nếp theo kỹ thuật cấy mạ hai lần. Họ làm nương phát, đốt, chọc lỗ tra hạt hoặc cày do tiếp thu từ người H’Mông.

 

Người Lự nổi tiếng với nghề dệt truyền thống, ngoài ra còn có nghề rèn gươm. Hái lượm, săn bắt, đặc biệt đánh cá ở suối là hoạt động thường xuyên.

 

Nghề dệt truyền thống

 

Trong các nghề phụ của người Lự thì nghề dệt là phát triển nhất. Mỗi gia đình người Lự thường có vài ba khung cửi, dệt thổ cẩm với nhiều đường nét hoa văn đẹp, họa tiết dệt và cách phối màu trên vải của người Lự vô cùng nổi tiếng.

Hàng năm, người Lự sẽ trồng cây bông vào tháng 3, tháng 4 và thu hoạch vào tháng 9 , tháng 10. Họ sẽ tuốt và bật bông rồi mang đi xe sợi, sau đó mắc vào khung cửi để dệt vải.

 

Ăn uống

 

Người Lự chủ yếu ăn xôi, ưa thích ăn ớt và các món chế biến từ cá, trong đó có món nộm chua với thịt cá tươi. Lợn, trâu, bò chỉ mổ ăn khi có lễ tết, không mổ để bán. Đàn ông thích uống nước chè và hút thuốc lào.

Trang phục

 

Người Lự thường nhuộm răng đen. Phụ nữ Lự mặc áo chàm xẻ ngực, mặc váy đen thêu trang trí. Cổ đeo vòng được nối hai đầu bằng chuỗi dây xà tích bằng bạc. Họ đội khăn đầu màu đen, có 18 đường kẻ trắng trang trí, hai đầu có tua rua, đeo vòng tay bằng bạc hoặc bằng đồng.

 

Đàn ông Lự mặc quần áo bằng vải chàm đen, áo cánh kiểu xẻ ngực, cài cúc tết dây vải, có hai túi ở hai vạt áo và một túi ở ngực trái, quần từ đầu gối trở xuống có thêu hoa văn. Họ đội khăn đen, gấp nếp cuốn nhiều vòng. Ðàn ông thường đeo gươm, không những để tự vệ mà còn là tập quán trang trí.

 

Phong tục nhà mới và bản làng

 

Người Lự ở nhà sàn 4 mái, mái kéo dài che làm hiên sàn nơi đặt khung dệt và các dụng cụ làm ra vải. Cửa ra vào ở hướng Tây Bắc. Trong nhà có chăn, đệm, màn, rèm và bếp ở giữa nhà.

 

Khi người Lự vào nhà mới, họ kiêng không làm lễ vào giữa trưa. Sau khi quét sạch nhà, họ sẽ mời 4 cụ già ngoài họ đến uống rượu quanh một cái chậu có 4 chén rượu đặt ở giữa nhà. Một chàng trai trẻ đến bên cửa ra vào, ngồi xổm và cất tiếng xin mua nhà, các cụ đang uống rượu đáp: "Chủ nhà sắp đến nhận rồi". Vợ chồng chủ nhà đã đứng sẵn ở chân cầu thang. Chồng mang một cái chài trên vai, vợ gánh một bên là kiềng và một bên là chõ xôi. Chồng trước, vợ theo sau leo lên cầu thang, đặt đồ vào nhà. Tiếp theo, hai thiếu nữ thắp hai bó đuốc bước lên nhà. Một cô khác ở đầu cầu thang cầm ống nước để dập tắt lửa cháy ở bó đuốc đi đầu. Người thứ hai, cầm bó đuốc vẫn cháy sáng, đưa đến nhóm lửa ở bếp. Ngọn lửa phải giữ cho cháy suốt 3 ngày 3 đêm. Chủ nhà làm lễ thờ tổ tiên bằng cỗ đầu lợn. Dân bản được mời ăn cỗ uống rượu, mọi người vui hát theo điệu sáo đôi.

 

Quan hệ cộng đồng

 

Quan hệ láng giềng là chủ đạo. Họ theo tập quán tương trợ giữa các gia đình trong lao động sản xuất, khi làm nhà mới, cưới xin ma chay. Hai họ Pu Da (nội) và Ta Nai (ngoại) là quan trọng nhất.

 

Hôn nhân gia đình và sinh đẻ

 

Người Lự khuyến khích hôn nhân ngược chiều với câu tục ngữ "dao khâu đồng, hôn nhân trở về lối cũ". Em lấy vợ, anh em của vợ thuộc bàng hệ chéo hai, ba đời lại lấy chị em gái của chồng. Không có trường hợp ép duyên. Theo tục ở rể 3 năm sau đó về làm dâu 2 năm thì đôi vợ chồng được phép ra ở riêng. Có ba bước cưới xin: lễ nhập phòng, tổ chức ăn uống, sau đó đón dâu. Trong lễ tổ chức ăn uống, nhà trai dâng lễ vật cho nhà gái trong đó phải có một thanh gươm.

 

Phong tục sau khi sinh đẻ của người Lự cũng rất đặc biệt. Khi đầy tháng, nhờ ông máy đem bút vót bằng cây guột và một mảnh vải trắng đĩa mực tàu đến bói và tìm tên cho trẻ nhỏ. Ðặt trứng gà lên bát gạo, ông máy gieo hạt gạo lên trông trứng xem chẵn, lẻ. Nếu ứng đúng như ông xướng thì lấy tên đó đặt cho trẻ và ghi tên vào mảnh vải rồi trao lại cho bố mẹ giữ lấy làm khai sinh. Nữ thường có tên là Kẻo (có nghĩa là ngọc) và nam là Khăm (có nghĩa là vàng)...

 

Ma chay

 

Khi nhà có người chết, người trong họ nội đội khăn trắng để tang, mổ một trâu đen để cúng tiễn hồn về cõi hư vô. Để thi thể ở nhà 3 ngày rồi thuê 8 người ngoài họ để khiêng ra rừng ma, chôn không đắp thành mồ. Những người đi đưa đám trước khi lên nhà phải tắm rửa sạch sẽ. Bà con gần gũi thuộc họ nội của người chết phải kiêng 3 ngày không lao động sản xuất. Người Lự theo đạo phật, nên sau khi chôn cất người chết một thời gian, tang gia làm một nhà táng giấy có trang trí đẹp rồi bỏ vải, đệm, gối thóc, tiền vào đó để làm lễ đưa linh hồn người chết vào chùa.

 

Tín ngưỡng

Người Lự thờ cúng tổ tiên vào tháng giêng theo lịch Lự (tháng 10 âm lịch), ở gian "hóng" trong nhà. Mâm cỗ thắp 10 ngọn nến sáp ong. Vào tháng giêng còn có lễ cúng bản gọi là "kiêng bản" (căm bản) với mâm cỗ 3 yến lợn đều cúng dựng ở đầu bản và cạnh sông, suối.

 

Vào tháng 3 mồng 3 và tháng 6 mồng 6 có lễ cúng ở khu rừng thiêng (đóng căm). Sau khi làm lễ xong, cả bản ăn cỗ, uống rượu, chơi kéo co, ném én, hát sáo đôi và kiêng nội bất xuất, ngoại bất nhập từ 3 đến 9 ngày gọi chung là "kiêng bản kiêng mường".

 

Lịch

 

Người Lự có lịch riêng, tháng giêng là tháng 10 âm lịch.

 

Đời sống văn hóa và tri thức dân gian

 

Chữ của người Lự theo mẫu tự Pali. Người ta lấy gai, que sắt nhọn hoặc vỏ cây vót nhọn làm bút viết trên lá cọ rừng, hoặc chấm mực tàu biết trên vải trắng. Xưa kia, trẻ 7-8 tuổi có tập quán đến học chữ của ông "chẩu hua" (sư).

 

Người Lự thích hát dân ca (khắp), yêu thích vốn truyện cổ, thơ ca, tục ngữ, các loại sáo, nhị, trống. Hát Lự (khắp lử) là cách con gái dùng một khăn vải màu đỏ che mặt hát theo tiếng sáo đôi do con trai thổi đệm. Theo lối hát này, vào lúc màn đêm buông xuống, các đôi nam nữ ngồi trên chiếu cói trải giữa sân say sưa hát, thổi sáo cùng nhau đến tận nửa đêm. Vào các dịp lễ tết, người Lự thường chơi các trò chơi kéo co, ném én, nam thanh niên thích múa gươm.

về tree hugger
câu chuyện
quán cà phê
homestay
thông tin du lịch
tour du lịch
photography
cửa hàng
chính sách giao hàng
chăm sóc sản phẩm
chính sách bán sỉ và đặt hàng theo yêu cầu
liên lạc
instagram.com/treehuggercafe
câu hỏi thường gặp

© tree hugger, 2021